SKKN: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 thực hiện tốt phép chia cho số có nhiều chữ số

0/5 No votes

Report this app

Description


Nó chiếm một vị trí quan trọng trong bộ môn toán học. Làm thế nào để học sinh tăng hứng thú và nhu cầu nhận thức, chia chủ động khi sử dụng số có nhiều chữ số trong chương trình học lớp 4 là câu hỏi mà nhiều giáo viên tự đặt ra. NewTopVN muốn gửi đến bạn đọc một số phép đo giúp SKKN: Học sinh lớp 4 thực hiện phép chia đúng cho số có nhiều chữ số để các bạn tham khảo. Bài viết tổng hợp những kỹ năng và phương pháp dạy học môn Toán cho học sinh lớp 4 hiệu quả và dễ hiểu. Đọc bài viết này để biết thêm thông tin.

Cách dạy toán lớp 4

I. Mô tả lời mời

1. Các tình huống xảy ra nhiễu

Như các bạn đã biết dạy và học môn Toán ở tiểu học cùng với việc dạy và học các môn học khác có vai trò rất quan trọng đối với việc hình thành và phát triển năng lực học toán của học sinh. Bài học đơn giản đầu tiên từ đây sẽ tạo nền tảng cho các em bước vào thế giới toán học rộng lớn hơn sau này. Ở tiểu học, việc nghiên cứu toán cần đặc biệt chú trọng nhằm phát triển đúng đắn kỹ năng giải toán của học sinh.

Phép chia là một trong những phép tính cơ bản và quan trọng của sức mạnh tính toán thực tế không chỉ ở bậc tiểu học mà còn ở các bậc học cao hơn. Nó cũng là một công cụ để tính tổng tuổi thọ của một người.

Từ lớp 2, lớp 3, các em đã được học bảng chia các số 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và học cách chia cho số có một chữ số. Đây là điều “gốc” nhưng lại ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình học phép chia sau này và khả năng vận dụng phép chia để giải bài tập.

Ngoài ra, ở lớp 4, học sinh học phép chia có 2 và 3 chữ số. Đây là một trong những thuật toán khó đối với học sinh. Bởi vì, ngoài việc nắm vững các bước thực hiện phép chia, học sinh còn cần biết cách tính nhẩm, nhân, trừ các phép chia.

Vậy làm cách nào để phân luồng lớp 4 một cách suôn sẻ? Đó là điều tôi luôn quan tâm và đang tìm cách nâng cao chất lượng giáo dục. Trong quá trình dạy học, học sinh lớp 4 đã mạnh dạn thực hiện một số bước để chia thành công cho nhiều chữ số.

Sáng kiến ​​của tôi có kết quả đáng khích lệ, khơi dậy hứng thú học tập của trẻ, giúp trẻ phân chia khéo léo. Từ đó, họ có thể tận dụng tối đa số tiền được chia.

2. Cơ sở lý thuyết

Chương trình Toán Tiểu học xoay quanh các lĩnh vực kiến ​​thức trọng tâm từ lớp 1 đến lớp 5, chẳng hạn như toán, đại lượng, đo đại lượng, hình học và giải bài tập đố. Chúng được chia thành hai giai đoạn.

Giai đoạn 1: Đây là giai đoạn học cơ bản của các lớp 1, 2, 3. Bước này là giai đoạn học tập.

Bước đầu tiên trong nhận dạng khái niệm cho một hình dạng riêng lẻ cụ thể thường là nhận dạng các đối tượng thực, hình ảnh, v.v. Có hỗ trợ.

Giai đoạn 2: Đây là giai đoạn học sâu dành cho học sinh lớp 4 và 5. Ở giai đoạn này, học sinh từng bước làm rõ các mối quan hệ cụ thể và từng bước khái quát hóa, trừu tượng hóa chúng.

Nội dung toán học được hiển thị thứ tư và thứ năm theo mạch trên. Mỗi mạch thông tin đóng một vai trò rất quan trọng trong việc ảnh hưởng lẫn nhau. Đối với học sinh, thực hành kỹ năng sử dụng máy tính là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết, trong đó có tiết thực hành chia. Nội dung phần giáo dục được thể hiện trong SGK Toán 4 như sau:

STT

Nội dung mới được đăng

Số kỳ

lần đầu tiên

Tách ra

Prophase

Vị trí thứ 2

Chia cho một số có một chữ số

Prophase

3

Chia số cho tích

Prophase

Bốn

Chia sản phẩm cho một số

Prophase

Năm

Chia hai số kết thúc bằng 0

Prophase

6

Chia cho 2 chữ số

Kỳ 3

7

Phân vùng là số 0

Prophase

số 8

Chia cho 3 chữ số

Muộn

9

Bài học thực tế

Học kỳ 7

toàn bộ

Học kỳ 18

Vì vậy, có thể thấy nội dung giáo dục của quá trình chia lớp 4 với số tự nhiên rất tốn thời gian. Và mục tiêu giáo dục hiện nay lấy sinh viên làm trung tâm để hướng sinh viên vào học thạc sĩ là một yếu tố quan trọng. Xác định được vị trí, vai trò, tác động, tầm quan trọng như vậy trong quá trình giáo dục, tôi không ngừng tích lũy tìm tòi, nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm để giúp học sinh tiếp thu tốt những kiến ​​thức này.

3. Cơ sở lý luận thực tiễn – thực trạng dạy và học

3.1 Lợi ích

– Đội ngũ giáo viên có năng lực, có tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình với phương pháp giảng dạy đã được tổ chức để giúp học sinh xây dựng cơ bản. Nhiều giáo viên có phương pháp giảng dạy xuất sắc, thúc đẩy động cơ, động lực và sự sáng tạo của học sinh.

– Đa số học sinh có ý thức học tập tốt, một số em vận dụng linh hoạt kiến ​​thức toán khi giải toán. Hầu hết các em đều biết bảng nhân, chia và biết vận dụng để giải toán.

Xem thêm  Top 7 pundi coin price in 2022

3.2 Giới hạn

-Đối với giáo viên:

+ Khi giảng dạy, có thể bạn chưa thực sự chú ý đến một số thủ thuật có thể gọi là “gợi ý” làm bài trong giáo dục toán.

+ Tôi vẫn chưa sáng tạo trong việc vận dụng các phương pháp dạy học để tìm ra cách dạy thiết thực nhất cho phép chia có nhiều chữ số.

Trong thực tế, giáo viên thường chú ý đến kết quả hơn là quá trình. Điều này rất có hại vì nó không đảm bảo rằng giáo dục sẽ luôn thành công. Ngay cả kết quả tốt cũng là ngẫu nhiên và may rủi, nằm ngoài tầm kiểm soát của giáo viên. Nếu kết quả là sai thì không thể biết sai ở giai đoạn nào. Một số quy trình cho kết quả chính xác, nhưng không phải là kết quả tối ưu. Kết quả là, các giáo viên đã không giúp đỡ những học sinh còn thiếu sót thay vì cố gắng hết sức để cung cấp kiến ​​thức cho các em.

+ Trong quá trình giải toán, hoạt động của học sinh không tăng.

+ Chưa xây dựng được ý thức tự giác học tập cho học sinh.

-Với học sinh:

+ Một số học sinh chưa nhớ bảng nhân, chia chưa nhân, chia, trừ nhanh.

+ Khi chia cho nhiều chữ số, nhiều học sinh còn lúng túng về tính nhẩm nên phép chia sẽ chậm hơn.

+ Nhiều em chưa có ý thức tự giác học tập.

Đối với phụ huynh học sinh: Nhiều phụ huynh còn bận công việc nên việc dạy, đọc sách cho con em mình còn hạn chế.

4. Giải pháp và phương pháp thực hiện

4.1 Khảo sát và phân loại học sinh

-Điều tra phân loại đối tượng học sinh và hiểu rõ đối tượng để đưa ra biện pháp xử lý hợp lý nhất.

– Dặn dò: Sau bài học phép chia có 2 chữ số.

Trong một nghiên cứu thực tế về hệ thống vận động chia cho một số có hai chữ số, kết quả rất thấp, đặc biệt là:

toàn bộ

Kết quả (đánh dấu vào điểm)

9-10

%

7-8

%

5-6

%

3-4

%

26

3

11,5

6

hai mươi ba

Ngày 12

46.3

Năm

19,2

Nhờ thử nghiệm nghiên cứu, tôi có nhóm thống kê sau:

– Nhóm 1: Nhóm học sinh đã chia thành công có hai chữ số.

– Nhóm 2: Nhóm học sinh đã biết tách và vận dụng để giải các bài toán có liên quan.

Đối với Nhóm 1, hai sinh viên gặp ít vấn đề khi truy cập khóa học. Hầu hết các em nhanh chóng hiểu được các kỹ năng làm tròn và tính chia sau khi giáo viên gợi ý trong giờ học.

– Nhóm 3: Một nhóm học sinh làm được phần này nhưng còn chậm. Điều này là do các phép toán bảng nhân và chia không hiệu quả. Trường hợp này nhiều em thuộc bảng cửu chương nhưng vẫn có bài toán chia cho dư. Ví dụ, một học sinh biết “63: 9 = 7”, nhưng rất khó xác định phần “65: 9”. Trẻ có thể nhẩm phần chia trong bảng nhưng không xác định được độ chính xác của phép chia.

Ví dụ: Tiết 522: 58 =?

Sử dụng mẹo làm tròn số, học sinh có thể tính 520: 60 hoặc 52: 6 để được 8. Tuy nhiên, nếu bạn nhân với 58 và sau đó trừ, bạn sẽ không thấy rằng phần dư lớn hơn hoặc bằng số chia. Vì vậy, học sinh cần thực hiện những điều sau: Tôi thích. Mối tình đầu mà nhiều đứa trẻ tìm thấy vẫn tiếp tục tách rời, vì vậy bạn sẽ nhận được một tình yêu nữa trong lần trao đổi tiếp theo. …

– Nhóm 4: Nhóm học sinh chưa hoàn thành phần này. Đây là nhóm đối tượng cần quan tâm nhất trong giờ học. Trên thực tế, giáo viên thường dành nhiều thời gian nhất để giảng dạy và kiểm tra với những đứa trẻ này trong mỗi lớp học. Mặt khác, sự thành công của phương pháp này phụ thuộc nhiều vào các đối tượng trong nhóm này. Có nhiều lý do khiến học sinh trong nhóm này không bị chia rẽ trong buổi học đầu tiên, nhưng chúng tôi chủ yếu tập trung vào hai lý do:

+ Nguyên nhân 1: Học sinh không thuộc bảng nhân chia, “mơ mộng”, hay hư bài nếu có. Một số trẻ em có thể đọc bảng phân vùng theo thứ tự, nhưng đột nhiên không thể tìm thấy phân vùng ở giữa bảng phân vùng hoặc bạn phải đọc lại từ đầu bảng phân vùng. Bản nhạc, … ..

+ Nguyên nhân thứ 2: Học sinh chưa hiểu và nắm được cách làm tròn số SBC và SC trong mỗi phép chia vì cần làm tròn thương để ước lượng thương dẫn đến sai số.

xây dựng SKKN: Một số lưu ý giúp lớp 4 chia tốt cho số có nhiều chữ số Nếu quá dài, hãy tải tệp lên.

Xem thông tin hữu ích khác trong phần tài liệu Dữ liệu lớn.


Tóm tắt

SKKN: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 thực hiện tốt phép chia cho số có nhiều chữ số

Trong các môn học cùng với môn Toán có vị trí quan trọng. Làm thế nào để học sinh có hứng thú, có nhu cầu nhận thức và chủ động trong thực hiện tốt phép chia cho số có nhiều chữ số ở chương trình lớp 4 là câu hỏi nhiều giáo viên đặt ra. NewTopVN xin gửi tới bạn đọc bài viết SKKN: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 thực hiện tốt phép chia cho số có nhiều chữ số để bạn đọc cùng tham khảo. Bài viết nêu rõ những kỹ năng, phương pháp dạy môn Toán cho học sinh lớp 4 sao cho hiệu quả và dễ hiểu cho học sinh. Mời bạn đọc cùng tham khảo chi tiết bài viết tại đây.
Phương pháp dạy môn Toán cho học sinh lớp 4
I. MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Như chúng ta đã biết, song song với việc dạy và học các môn học khác, việc dạy và học Toán ở trường Tiểu học có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển khả năng toán học cho học sinh. Bởi từ đây, những bài học đơn giản đầu tiên sẽ là nền móng đưa các em đi vào thế giới toán học bao la sau này. Để phát triển tốt khả năng toán học cho học sinh thì việc học Toán ở trường Tiểu học phải đặc biệt được chú trọng.
Phép chia là một trong những phép tính cơ bản và quan trọng trong các kĩ năng thực hành tính toán không chỉ ở bậc tiểu học mà còn ở các bậc học khác cao hơn. Nó cũng là công cụ tính đi suốt cuộc đời con người.
Ngay từ lớp 2, 3 các em đã được học các bảng chia 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và học về phép chia cho số có một chữ số. Tuy là “ban đầu” nhưng nó ảnh hưởng rất lớn đến quá trình học phép chia sau này cũng như khả năng vận dụng phép chia vào giải toán.
Hơn thế nữa, ở lớp 4 học sinh được học phép chia cho số có hai, ba chữ số. Đây là một trong những thuật toán khó đối với học sinh. Bởi vì bên cạnh việc nắm chắc các bước chia, học sinh còn phải biết ước lượng thương, biết nhân, trừ nhẩm.
Vậy làm thế nào để học sinh lớp 4 có thể chia thành thạo? Đó là điều tôi luôn trăn trở, tìm tòi các biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học. Trong quá trình giảng dạy, tôi đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 thực hiện tốt phép chia cho số có nhiều chữ số.
Sáng kiến của tôi đã thu được những kết quả đáng khích lệ, tạo được hứng thú học tập cho các em, giúp các em chia thành thạo. Từ đó các em có thể vận dụng phép chia một cách tốt nhất.
2. Cơ sở lí luận
Chương trình Toán ở Tiểu học xoay quanh các mảng kiến thức đồng tâm từ lớp 1 đến lớp 5 đó là: số học, đại lượng và đo đại lượng, hình học và giải toán có lời văn. Các nội dung này được chia làm 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Là giai đoạn học tập cơ bản của học sinh lớp 1, 2, 3. Đây là giai
đoạn nhận biết khái niệm ban đầu ở dạng cụ thể, riêng lẻ thường có sự hỗ trợ của vật thật, tranh ảnh…
Giai đoạn 2: Là giai đoạn học tập sâu của lớp 4,5. Ở giai đoạn này học sinh làm rõ dần một số mối quan hệ và từng bước khái quát hóa, trừu tượng hóa.
Nội dung Toán học ở lớp 4,5 được trình bày theo các mạch trên. Mỗi mạch kiến thức đều có vai trò rất quan trọng, tác động lẫn nhau. Rèn kĩ năng tính toán cho học sinh là một nhiệm vụ quan trọng và rất cần thiết, trong đó có việc rèn kĩ năng chia. Nội dung dạy học phép chia được trình bày trong Sách giáo khoa Toán 4 như sau:

STT

Nội dung bài mới

Số tiết

1

Phép chia

1 tiết

2

Chia cho số có một chữ số

1 tiết

3

Chia một số cho một tích

1 tiết

4

Chia một tích cho một số

1 tiết

5

Chia hai số có tận cùng là chữ số 0

1 tiết

6

Chia cho số có hai chữ số

3 tiết

7

Thương có chữ số 0

1 tiết

8

Chia cho số có ba chữ số

2 tiết

9

Các tiết Luyện tập

7 tiết

Tổng

18 tiết

Như vậy có thể thấy rằng nội dung dạy học phép chia số tự nhiên ở lớp 4 chiếm thời lượng khá nhiều. Và với mục tiêu dạy học như hiện nay – lấy học sinh làm trung tâm thì phương pháp hướng dẫn học sinh thực hiện phép chia thành thạo là yếu tố rất quan trọng. Xác định được vị trí, vai trò, tác dụng và ý nghĩa quan trọng như vậy nên trong quá trình giảng dạy, tôi luôn tìm tòi, nghiên cứu, tích lũy kinh nghiệm để giúp học sinh học tốt mảng kiến thức này.
3. Cơ sở thực tiễn – Thực trạng dạy và học
3.1 Ưu điểm
– Đội ngũ giáo viên đạt chuẩn về trình độ, giảng dạy nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm cao, đã tổ chức cho học sinh hình thành các kiến thức cơ bản. Nhiều thầy cô có phương pháp giảng dạy tốt, phát huy được tính tích cực, năng động, sáng tạo cho người học.
– Đa số học sinh có ý thức học tập tốt, một số học sinh vận dụng linh hoạt các kiến thức toán học trong giải toán. Đa số các em thuộc các bảng nhân, chia và biết vận dụng vào giải toán.
3.2 Hạn chế
– Đối với giáo viên:
+ Trong giảng dạy, nhiều khi chưa thực sự chú ý đến một số thủ thuật trong dạy Toán, có thể gọi là “mẹo” làm bài.
+ Chưa sáng tạo trong việc vận dụng các phương pháp dạy học để tìm ra cách thích hợp nhất trong dạy chia cho số có nhiều chữ số.
+ Trên thực tế dạy học, giáo viên thường chú ý đến kết quả cuối cùng mà không để ý đến quá trình. Điều này rất tai hại vì không bảo đảm cho dạy học lúc nào cũng thành công. Kết quả đạt được dù tốt cũng chỉ là ngẫu nhiên, may rủi, nằm ngoài tầm kiểm soát của thầy cô giáo. Khi kết quả sai, ta không nắm được là sai ở khâu nào. Có những quy trình cũng cho kết quả đúng nhưng không phải là quy trình tối ưu. Do đó giáo viên chưa đi sâu vào việc khắc sâu kiến thức cho học sinh, bổ sung cho học sinh những chỗ hổng là rất ít.
+ Chưa phát huy được tính tích cực của học sinh trong quá trính giải toán.
+ Chưa xây dựng được cho học sinh ý thức tự học.
– Đối với học sinh:
+ Một số học sinh chưa thuộc các bảng nhân, chia và thực hiện các kĩ năng nhân, chia, trừ nhẩm chưa nhanh.
+ Khi thực hiện phép chia cho số có nhiều chữ số, nhiều học sinh còn lúng túng trong việc nhẩm thương cho nên việc thực hiện phép chia còn chậm.
+ Nhiều em chưa có ý thức tự học.
– Đối với phụ huynh học sinh: Nhiều phụ huynh học sinh còn mải làm ăn nên việc kèm cặp, đôn đốc con cái học hành còn nhiều hạn chế.
4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện
4.1 Khảo sát và phân loại đối tượng học sinh
– Khảo sát và phân loại học sinh với mục đích nắm được đối tượng của mình để đề ra những biện pháp hợp lý nhất.
– Thời điểm khảo sát: sau khi học xong bài Chia cho số có hai chữ số.
Qua khảo sát thực tế bằng hệ thống những bài tập liên quan đến phép chia cho số có hai chữ số cho thấy kết quả rất thấp, cụ thể như sau:

TỔNG SỐ

KẾT QUẢ (đánh giá bằng điểm số)

9-10

%

7-8

%

5-6

%

3-4

%

26

3

11,5

6

23

12

46,3

5

19,2

Qua bài kiểm tra khảo sát tôi đã thống kê thành các nhóm như sau:
– Nhóm 1: Nhóm HS đã thực hiện tốt phép chia cho số có hai chữ số.
– Nhóm 2: Nhóm HS đã biết thực hiện phép chia và ứng dụng tốt vào giải toán có liên quan.
Đối với nhóm 1, 2 học sinh rất ít gặp khó khăn khi tiếp cận với bài học. Hầu hết các em hiểu ngay các kĩ năng làm tròn và nhẩm ra thương sau lời gợi ý của thầy cô trong phép chia mẫu trên lớp.
– Nhóm 3: Nhóm HS thực hiện được phép chia này nhưng còn chậm. Nguyên nhân là do việc vận dụng các bảng nhân, bảng chia chưa thành thạo. Trong trường hợp này, nhiều em thuộc bảng nhân chia nhưng còn gặp khó khăn với các phép chia có dư. Ví dụ học sinh biết “63 : 9 = 7” nhưng “65 : 9” thì học sinh lại khó khăn trong việc xác định thương. Các em nhẩm được các phép chia trong bảng nhưng chưa xác định được thương đó còn đúng trong khoảng từ đâu đến đâu.
VD: Trong phép chia 522 : 58 =?
Bằng thủ thuật làm tròn HS nhẩm được phép tính 520 : 60 hay 52 : 6 được 8. Nhưng khi nhân lên rồi trừ đi còn dư 58 thì HS không phát hiện ra số dư bằng hoặc lớn hơn số chia nên phải tăng thêm 1 vào thương vừa tìm. Thậm chí nhiều em lại tiếp tục chia tiếp nên được thêm 1 lần nữa ở thương tiếp theo. …
– Nhóm 4: Nhóm HS chưa thực hiện được phép chia này. Đây là nhóm đối tượng cần quan tâm nhất trong giờ học. Sở dĩ như vậy vì GV thường dành nhiều thời gian nhất cho các em này trong việc giảng dạy và kiểm tra trong mỗi tiết học. Mặt khác, phương pháp có thành công hay không là phụ thuộc phần lớn ở nhóm đối tượng này. Có rất nhiều nguyên nhân khiến nhóm HS này chưa thực hiện được phép chia trong giờ học đầu tiên, nhưng tập trung chủ yếu ở 2 nguyên nhân sau:
+ Nguyên nhân 1: HS chưa thuộc bảng nhân chia hoặc nếu có thuộc thì rất “mơ màng” hay thuộc vẹt. Có em đọc được bảng chia theo thứ tự nhưng đột ngột hỏi phép chia bất kì ở giữa bảng chia thì không tìm được hoặc lại phải đọc lại từ đầu bảng chia,…
+ Nguyên nhân 2: Với những phép chia cần làm tròn để dễ nhẩm thương thì HS chưa hiểu và chưa biết làm tròn SBC và SC trong mỗi lượt chia dẫn đến kết quả thường sai.
Do SKKN: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 thực hiện tốt phép chia cho số có nhiều chữ số rất dài, mời các bạn tải file về.
Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Tài liệu của NewTopVN.

#SKKN #Một #số #biện #pháp #giúp #học #sinh #lớp #thực #hiện #tốt #phép #chia #cho #số #có #nhiều #chữ #số


  • Tổng hợp: NewTopVN
  • #SKKN #Một #số #biện #pháp #giúp #học #sinh #lớp #thực #hiện #tốt #phép #chia #cho #số #có #nhiều #chữ #số

Leave a Reply

Your email address will not be published.

Larissa de Lima Cerqueira – Nữ DJ nổi tiếng tiết lộ từng hẹn hò bí mật với Neymar Top 5 bộ phim 18+ mà ai cũng nên xem Gái xinh #shorts Gái xinh cưng ghê <3 Top 4 diễn viên AV Trung Quốc xinh đẹp nhất hiện nay